Thursday, 25th June, 2026 17:46

Trong bối cảnh Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đề xuất áp mức thuế bổ sung lên đến 12,5% đối với hàng hóa Việt Nam với cáo buộc liên quan đến lao động cưỡng bức, Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định những kết luận này hoàn toàn không phản ánh đúng thực tế cũng như những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong phòng ngừa và giảm thiểu lao động cưỡng bức.

Ngày 2/6 vừa qua, USTR đã công bố đề xuất áp thuế bổ sung 10% hoặc 12,5% đối với hàng hóa nhập khẩu từ 60 nền kinh tế, trong đó có Việt Nam, với lý do các nước này chưa ban hành hoặc thực thi hiệu quả các biện pháp ngăn chặn nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Theo phân loại của USTR, Việt Nam nằm trong nhóm 46 quốc gia và vùng lãnh thổ bị đề xuất mức thuế 12,5% – mức cao nhất trong số các nền kinh tế bị điều tra, bên cạnh Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia.

VIỆT NAM BÁC BỎ CÁO BUỘC LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC TỪ MỸ: "KHÔNG PHẢN ÁNH ĐÚNG THỰC TẾ"

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng tại họp báo ngày 14-5 – Ảnh: BỘ NGOẠI GIAO

Ngay sau đó, trong buổi họp báo thường kỳ diễn ra ngày 4/6 tại Hà Nội, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã có phản ứng chính thức đầu tiên. Bà Hằng nhấn mạnh: “Kết luận điều tra về các hành vi lao động cưỡng bức của Cơ quan Đại diện thương mại Mỹ không phản ánh đúng thực tế và nỗ lực của Việt Nam trong phòng, ngừa, giảm thiểu lao động cưỡng bức.”

Bà khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam là nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức, đồng thời tuân thủ nghiêm túc các quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng như các cam kết trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. “Chủ trương này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ, được đảm bảo thực hiện trong thực tế”, người phát ngôn nhấn mạnh.

Việt Nam đã phê chuẩn Công ước số 29 của ILO về Lao động cưỡng bức (1930) vào năm 2007 và Công ước số 105 về Xóa bỏ Lao động Cưỡng bức (1957) vào năm 2020. Bộ Luật Lao động năm 2019 của Việt Nam cũng định nghĩa rõ ràng về hành vi cưỡng bức lao động, theo đó “việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái ý muốn của họ” là hoàn toàn bị nghiêm cấm.

Đáng chú ý, trong quá trình USTR tiến hành điều tra kéo dài từ tháng 3/2024, Việt Nam đã chủ động cung cấp đầy đủ, chi tiết thông tin và dữ liệu liên quan đến hệ thống pháp luật cũng như tình hình thực thi tại quốc gia. Tuy nhiên, theo phản ánh từ Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phía Hoa Kỳ vẫn cho rằng Việt Nam “chưa thiết lập một lệnh cấm mang tính pháp lý trực diện” đối với nhập khẩu hàng hóa từ lao động cưỡng bức – một yêu cầu mà nhiều chuyên gia thương mại cho là chưa thực sự phù hợp với bối cảnh các nước đang phát triển.

VIỆT NAM BÁC BỎ CÁO BUỘC LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC TỪ MỸ: "KHÔNG PHẢN ÁNH ĐÚNG THỰC TẾ"

Xe container trên cầu Phú Mỹ hướng về cảng Cát Lái, TP. HCM. Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: Nhật Thịnh/Báo Thanh Niên.

Bà Phạm Thu Hằng khẳng định thêm: “Trên tinh thần đó, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục trao đổi, làm việc với phía Mỹ trên tinh thần xây dựng, hợp tác để giải quyết các bất đồng còn tồn tại, trên cơ sở các cam kết thương mại song phương, đa phương của mỗi bên, nỗ lực bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động và doanh nghiệp.”

Theo báo cáo của Cục Công tác Lao động Quốc tế (ILAB) thuộc Bộ Lao động Hoa Kỳ, tính đến tháng 9/2024, Việt Nam có 17 ngành nghề bị cho là có liên quan đến lao động cưỡng bức và lao động trẻ em, trong đó ngành may mặc là lĩnh vực bị cáo buộc nhiều nhất. Tuy nhiên, các chuyên gia độc lập cho rằng báo cáo này phần lớn dựa trên các bộ dữ liệu quốc gia của Việt Nam về lao động trẻ em, vốn đã có nhiều cải thiện đáng kể trong những năm gần đây.

Cần lưu ý rằng đề xuất này mới chỉ là dự thảo. Chính quyền Hoa Kỳ sẽ tiến hành lấy ý kiến công khai đến hết ngày 6/7/2025 trước khi có phiên điều trần vào ngày 7/7. Điều này mở ra cơ hội cho các bên liên quan, bao gồm chính phủ Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, có thể cung cấp thêm bằng chứng và lập luận phản bác.

Một điểm thú vị là ngay cả trong nội bộ cộng đồng quốc tế, đề xuất của USTR cũng vấp phải nhiều chỉ trích. Nhiều quốc gia châu Âu cho rằng động thái này là “hoàn toàn vô lý” và “vô căn cứ”. Tổ chức Human Rights Watch cũng bày tỏ sự “đáng hoài nghi” khi đề xuất được đưa ra ngay trước khi mức thuế tạm thời 10% hiện tại sẽ hết hiệu lực vào ngày 24/7 tới.

Trong khi đó, tại Việt Nam, một số cơ quan báo chí nhà nước khi đưa tin về sự việc đã có cách tiếp cận thận trọng, thậm chí không nhắc tên Việt Nam trong danh sách các quốc gia bị đề xuất áp thuế – một cách xử lý cho thấy sự nhạy cảm của vấn đề trong bối cảnh quan hệ thương mại Việt – Mỹ đang ở giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất trong lịch sử.

Rõ ràng, câu chuyện về lao động cưỡng bức không chỉ đơn thuần là vấn đề nhân quyền hay luật pháp lao động, mà còn là một công cụ thương mại đầy sức nặng. Với kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ lên tới hơn 100 tỷ USD mỗi năm, việc bảo vệ quan điểm của mình trong vụ việc này không chỉ là trách nhiệm quốc gia mà còn là lợi ích sống còn của hàng triệu người lao động Việt Nam. Và trong cuộc chiến đầy cam go này, Hà Nội đang chọn chiến lược đối thoại, hợp tác và kiên trì với những con số, bằng chứng thay vì những lời lẽ đối đầu căng thẳng.

NGUỒN: TUOITRE, LUATKHOA

VIỆT NAM BÁC BỎ CÁO BUỘC LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC TỪ MỸ: "KHÔNG PHẢN ÁNH ĐÚNG THỰC TẾ"
KhanhHai